Trả lời phỏng vấn ICTNews: Góc nhìn về Startup Việt năm 2023

Mình được ICTNews phỏng vấn vào tháng 12 năm 2022, bài viết cũng đã được biên tập và đăng tải theo link bên dưới. Mình muốn chia sẻ lại câu trả lời của mình cho 11 câu hỏi từ ICTNews, đây là bản đầy đủ chưa được biên tập lại từ báo chí, mời mọi người đọc cùng mình.

Link bài viết đã được đăng tải ở ICTNews: Xem thêm ở đây.

Nếu như năm 2021, thị trường đầu tư công nghệ ở Việt Nam chứng kiến không ít thương vụ đầu tư khủng như của Tiki, MoMo… thì dường như năm 2022, thị trường lại chỉ bao gồm những thương vụ nhỏ hơn. Bà đánh giá như thế nào về thị trường đầu tư công nghệ ở Việt Nam trong năm 2022, liệu năm nay có những thương vụ khủng vào thời điểm cuối năm để phá vỡ kỷ lục của năm 2021 hay sẽ là một năm ảm đảm?

Mọi người hay so sánh từng năm với nhau nên sẽ thấy chênh lệch lớn. Trong khi thực tế, kinh tế cũng có chu kỳ, và hẳn nhiên vòng đời của quỹ đầu tư hay thị trường đầu tư cũng có chu kỳ riêng của mình. Thông thường, một quỹ đầu tư mạo hiểm, họ sẽ có nhu kỳ hoạt động của một nguồn quỹ mà họ quản lý, kéo dài từ 6 đến 10 năm. Giai đoạn đầu của nguồn quỹ mới sẽ rất sôi động và giải ngân tích cực; nhưng đến giữa chu kỳ của nguồn quỹ, hoạt động đầu tư sẽ chậm hơn và họ bắt đầu có chiến lược thoái vốn. Khi kết thúc chu kỳ của một quỹ đầu tư, sẽ là lúc nhìn lại và bắt đầu chia sẻ lợi nhuận hoặc các khoản lỗ cho các nhà đầu tư góp vốn (Limited Partners) vào nguồn quỹ chung đó.

Khi chúng ta nhìn vào chu kỳ thay cho so sánh từng năm, chúng ta sẽ thấy những thương vụ của năm nay ít hơn hẳn so với năm 2021 là một điều hết sức bình thường. Người tiêu cực sẽ thấy đây là một năm ảm đạm, còn ở góc nhìn trung lập và có phần tích cực hơn, tôi đang thấy 2022 là điểm bắt đầu của một chu kỳ mới dành cho hệ sinh thái đổi mới sáng tạo. Hãy thử nhìn thế này. Trong 5-6 năm qua, ngoài các tên chúng ta cứ nhắc đi nhắc lại đến mức nhàm chán như Tiki, Momo, VNG, VNPay,… chúng ta có thấy nhân tố mới mẻ nổi bật nào đáng để theo dõi không? 2022 cho đến 2024, chúng ta sẽ chứng kiến một làn gió mới với các công ty khởi nghiệp mới mẻ và có cách làm khác. Đây là giai đoạn ươm mầm và bắt đầu, những thương vụ lúc này có ở giá trị nhỏ, nhưng bù lại số lượng công ty nhận được đầu tư mới nhiều hơn bình thường.

Theo bà, vì sao thị trường đầu tư năm 2022 lại có sự sụt giảm như vậy, nhất là so với thời điểm năm 2021, dù vẫn bị ảnh hưởng bởi dịch bệnh?

Nếu chúng ta nhìn vào năm 2022 rộng ra, thì chúng ta có thể thấy 2022 như một tổ hợp của những yếu tố không thể lường trước: cuộc xung đột tại Ukraine với Nga vẫn tiếp diễn; tình hình dịch bệnh tại các nước là trung tâm sản xuất của thế giới như tại Trung Quốc và Ấn Độ đã góp phần không nhỏ đến sự gãy đổ của chuỗi cung cứng; khủng hoảng kinh tế toàn cầu. Tất cả tạo ra hiệu ứng dây chuyền và đổ dồn về trong năm 2022. Các công ty lớn, hoặc những nhà đầu tư chiến lược, họ bắt đầu phải co cụm và tối ưu hóa các khoản đầu tư trước của mình, bắt đầu cân nhắc hơn ở các khoản đầu tư mới. Thậm chí, nếu để ý kỹ, một số quỹ đầu tư chuyên đầu tư series C đến series E ở Mỹ đã im hơi lặng tiếng quý 3 năm 2021 cho đến nay. Vì vậy, kinh tế vĩ mô chưa bình ổn, thì các nhân tố nhỏ hơn như các công ty khởi nghiệp chắc chắn cũng sẽ phải gặp ảnh hưởng ít nhiều.

Những lĩnh vực nào đã thu hút nhiều cũng như ít nhận được sự quan tâm của các nhà đầu tư trong năm 2022? Vì sao?

Rõ nét nhất trong những năm trở lại đây, các lĩnh vực liên quan đến tài chính như dịch vụ tài chính (financial services) và giáo dục thu hút nhiều sự chú ý nhất từ các nhà đầu tư. Theo cá nhân tôi đánh giá, hai lĩnh vực này đã chứng minh tính bền vững của nó cho dù thị trường chung có biến động như thế nào. Để có thể thấy dòng tiền đang chảy về đâu, theo thống kê sơ bộ trong 3 năm trở lại đây (2020 – 2022), ước tính tổng vốn đầu tư vào lĩnh vực bán lẻ là 416 triệu USD, ước tính tổng vốn đầu tư vào lĩnh vực FinTech khoảng 462 triệu USD, và giáo dục/EdTech là 103 triệu USD.

Có hai lĩnh vực cá nhân tôi thấy thú vị nhưng vẫn chưa thấy nhiều nhà đầu tư chú ý, có thể là do năng lực cạnh tranh của các lĩnh vực này đến từ Việt Nam so với thế giới chưa có sự rõ ràng: các thiết bị Internet of Things (IOT) và Cyber Security. Thử tưởng tượng xem, sự phát triển của công nghệ nói chung đã đi đến từng hộ gia đình; bên cạnh sự phát triển của IOTs, chắc chắn không thể bỏ sót Cyber Security. Tuy vậy, các startups Việt đang hoạt động trong lĩnh vực này chưa tạo được sự khác biệt nổi bật so với các đối thủ khác trên thế giới. Hai lĩnh vực này cũng cần đòi hỏi kinh nghiệm cũng như kiến thức chuyên môn sâu sắc hơn, vì thế rào cản gia nhập cuộc chơi chung này có phần khó khăn hơn so với các lĩnh vực gần gũi với người tiêu dùng như thương mại điện tử, giáo dục, dịch vụ tài chính,v..v…        

Trong năm 2022, ThinkZone đã gặp những khó khăn gì trong việc đầu tư, tiếp cận hay tìm kiếm các startup Việt? Bà có ấn tượng đặc biệt với startup/mô hình nào trong năm nay hay không?

Có một điều may mắn với ThinkZone là với lợi thế quỹ đầu tư mạo hiểm được hậu thuẫn với các tập đoàn lớn và có sự thấu hiểu thị trường Việt Nam sâu sắc, nên việc tìm kiếm cũng như tiếp cận các công ty khởi nghiệp Việt Nam không quá khó khăn. ThinkZone ở Fund I đầu tư mô hình accelerator, là nơi ươm mầm các công ty khởi nghiệp từ giai đoạn rất sớm, vì vậy cho đến Fund II, ThinkZone chuyển hướng đầu tư với tổng vốn đầu tư vào mỗi thương vụ lớn hơn, ThinkZone cũng đã có sẵn các thương vụ tiềm năng bên cạnh việc tích cực tìm kiếm các công ty mới nổi khác. 

Một số mô hình mà tôi đặc biệt ấn tượng và sẽ theo dõi sâu sát: lĩnh vực Food Tech nói riêng hay Agriculture Tech nói chung; Cyber Security và MarTech (Marketing Technology).

Trong năm 2023, theo bà, thị trường đầu tư Việt sẽ có sự khởi sắc hay vẫn sẽ ảm đảm do ảnh hưởng chung của nền kinh tế? Trong đó, những lĩnh vực nào sẽ đặc biệt thu hút sự chú ý của các nhà đầu tư?

Tôi dự đoán năm 2023 hay thậm chí 2024 là những năm tạo ra những nhân tố mới. Trong những năm này, những thương vụ lớn sẽ không có nhiều, thay vào đó, chúng ta có thể biết đến hay nghe nói đến những thương vụ nhỏ (dưới 1 triệu đô cho mỗi khoản đầu tư vào mỗi startup chẳng hạn) hoặc các thương vụ mua bán sáp nhập. Thời điểm 2023 là lúc thị trường được điều chỉnh, giá trị của các công ty được thay đổi về giá trị thực tế nhất, không còn những thổi phồng hay giá trị ảo đến từ niềm tin ảo. Cũng có thể vì thế mà các thương vụ mua bán sáp nhập giai đoạn này sẽ sôi động hơn, còn các thương vụ đầu tư rất lớn thì sẽ còn cần một thời gian dài nữa.

Thời gian gần đây, mọi người hay nhắc đến cụm từ “mùa đông công nghệ”, theo bà nó sẽ ảnh hưởng như thế nào đến thị thị trường đầu tư công nghệ nói chung và startup Việt nói riêng?

Cụm từ này thực chất đến từ “Crypto Winter”, mùa đông của dòng tiền mã hóa chỉ sự suy giảm kéo dài của giá trị tiền mã hóa trong thời gian qua – và cụm từ này được truyền cảm hứng từ show truyền hình Game of Thrones (Trò Chơi Vương Quyền). Từ trước đến nay, giới công nghệ nói chung đã đi qua nhiều lần biến động, có thể kể đến Bong Bóng Dotcom, hoặc các lần suy thoái kinh tế toàn cầu từ thập niên 90 cho đến nay.

Tôi nghĩ rằng mọi người dùng cụm từ “mùa đông công nghệ” này bởi vì nó trùng khớp với thời điểm mà các dự án huy động tiền mã hóa sụp đổ, dấy lên lo ngại toàn cầu về tính bền vững của nền tảng công nghệ mới, mà cụ thể ở đây là công nghệ blockchain. Cá nhân tôi không thích gộp chung hai hiện tượng này vào thành một, bởi vì như tôi đã giải thích ở trên, mọi thứ đều mang tính chu kỳ. Và chu kỳ của thị trường đầu tư công nghệ nói chung, dù có “Crypto Winter” hay không, nó cũng đang diễn ra vào thời kỳ bão hòa của các công ty đã có chút chỗ đứng nhất định, cũng là thời điểm bắt đầu của thế hệ các công ty đổi mới sáng tạo mới trong những năm sắp tới đây.

Đây là một giai đoạn thử thách rất lớn, và cũng là giai đoạn sàng lọc mà chúng ta có thể trông đợi để thấy được đâu là những công ty có mô hình kinh doanh bền vững thực sự, hay chỉ là các công ty ăn may hay lướt sóng kinh tế tạm thời. Các dự án về tiền mã hóa sụp đổ, không phải là do công nghệ, mà vấn đề rất lớn nằm ở năng lực lãnh đạo, năng lực quản lý và vận hành công ty, cũng như sự chính trực trong đạo đức kinh doanh. Qua những biến cố vừa rồi, tôi hi vọng thị trường có thể điều chỉnh kỳ vọng cũng như có cái nhìn khắt khe hơn với các dự án mà mình đầu tư cũng như lựa chọn sự phát triển bền vững hơn hào nhoáng tài chính trong ngắn hạn. Sự lựa chọn đầu tư sáng suốt hơn, sẽ giúp các công ty có năng lực tốt vượt qua được giai đoạn khủng hoảng này, ngoài ra, thị trường sẽ dần đào thải các dự án yếu kém ở mọi góc độ. Thị trường được làm sạch trước khi phát triển vững mạnh cũng là một phần tất yếu của một chu kỳ phát triển kinh tế.

Để vượt qua được giai đoạn này, theo bà, các nhà sáng lập cần chuẩn bị gì và sẽ phải vận hành doanh nghiệp của mình như thế nào?

Từ khóa cho năm sau có lẽ sẽ nằm vào hai cụm từ “tinh gọn” và “hiệu quả”. Startups nói chung, ở toàn thế giới không riêng gì Việt Nam, đang được thử thách vận hành doanh nghiệp với nguồn tài nguyên (tài chính, nhân sự) hạn chế. Đây cũng là lúc sự sáng tạo và tính linh hoạt lên ngôi. Thời điểm khởi nghiệp kể từ năm 2022 trở về sau sẽ khác rất nhiều so với 2012, đừng dùng và ỷ lại những kinh nghiệm của quá khứ để tạo thành rào cản cho chính mình.

Ví dụ ở thời điểm 2012, khi thị trường còn mới mẻ, người dùng vẫn chưa quen thuộc với các sản phẩm internet, hình ảnh về các công ty công nghệ trong nước vẫn còn mới lạ, vì vậy, việc đầu tư vào các văn phòng hoành tráng, số lượng nhân viên đông đảo, các hoạt động marketing rầm rộ, … là những điều hết sức bình thường và là điều nên làm. Sau 10 năm, người dùng thời điểm đó đã thêm 10 tuổi, đã quen thuộc với sản phẩm công nghệ, hành vi đã được thay đổi ít nhiều dù là trực tiếp hay gián tiếp từ thị trường chung, thì có những hoạt động có lẽ không cần thiết nữa. Ví dụ như sự phát triển của nhận diện ngôn ngữ thông minh hay các sản phẩm AI, giúp cho bộ phận chăm sóc khách hàng làm việc hiệu quả hơn với số lượng nhân viên chăm sóc khách hàng thực tế ít hơn so với trước đây, thay vì cần 1000 nhân sự thì giờ đây có lẽ chỉ cần 200 nhân sự mà vẫn có thể tiếp nhận khối lượng công việc gấp 10 lần so với thông thường.

Nhiều ý kiến cho rằng, nếu như trước dịch COVID-19, startup thường tập trung đốt tiền để tăng trưởng nóng. Nhưng hiện nay, các nhà đầu tư thường hướng đến những startup phát triển bền vững và tập trung phát triển sản phẩm, ĐMST hơn. Theo bà điều này có đúng khôngvà startup trước và sau dịch có những điểm gì khác biệt? Điều này có tốt cho thị trường hay không, vì để educate thị trường, sản phẩm tốt không phải chăng là chưa đủ?

Tôi sẽ không so sánh giai đoạn trước hay sau dịch COVID-19, mà tôi sẽ nhìn vào các làn sóng khởi nghiệp từ 2008 cho đến nay. Là một người có sự nhạy về lĩnh vực khoa học công nghệ trong và ngoài nước, tôi rất may mắn được tiếp xúc và theo dõi lĩnh vực này từ thời điểm 2008, cho đến 2010 thì chính thức tập trung hẳn vào hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo tại Việt Nam. Nếu tính từ 2008 thì cho đến nay, hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo tại Việt Nam – hay còn gọi nôm na là startups Việt – tôi quan sát thấy có 4 làn sóng khác nhau ở hai chu kỳ kinh tế vĩ mô. Điểm chung ở các làn sóng này là: thời gian đầu cơn sóng, các công ty tăng tốc đốt tiền; ở giữa cơn sóng, các công ty bắt đầu chững lại và không phát triển được nữa; ở cuối cơn sóng, là những cuộc layoffs lớn, chuyển đổi mô hình kinh doanh, tồn tại được thì sẽ bền vững, còn không thì phá sản và biến mất khỏi thị trường như chưa từng tồn tại.

Các nhà đầu tư kiếm tiền, dù là quỹ đầu tư mạo hiểm hay nhà đầu tư cá nhân, cũng là mua vào lúc giá rẻ và bán ra vào thời điểm được giá (nếu không muốn nói là giá cao). Vì vậy, nếu quan sát đủ chi tiết, thì sẽ thấy các nhà đầu tư rót rất nhiều tiền vào thời điểm bắt đầu cơn sóng, để startups / công ty mà họ đầu tư, có thể chiếm lĩnh thị trường nhanh chóng, giá trị của công ty khởi nghiệp tăng trưởng gấp vài chục, vài trăm lần, để nhà đầu tư có thể đạt được lợi nhuận tốt nhất khi họ cần thoái vốn. Startups, ở mặt khác tôi có sự đồng cảm, họ cũng vì áp lực tăng trưởng đã cam kết với nhà đầu tư, đã không ngơi tay “đốt tiền” để đạt được kết quả trong thời gian ngắn. Dĩ nhiên là điều này không có tính bền vững và hoàn toàn không tốt cho một doanh nghiệp mới nổi một chút nào.

Thời gian về sau, mọi người có thể thấy sự “chững” lại của nhà đầu tư, hay nhiều quỹ đầu tư bắt đầu tập trung vào sự phát triển bền vững hơn tăng trưởng nóng. Tôi nghĩ, đây là kết quả tất yếu sau nhiều cú thử ở những làn sóng trước; khi bắt đầu nhận ra được bản chất vận hành của nền kinh tế và tin tưởng vào tiềm năng của kinh tế Việt Nam ở góc độ vĩ mô, nhà đầu tư có phần điềm tĩnh hơn và bắt đầu chọn lọc nuôi dưỡng nhân tố tương lai hơn câu chuyện “đánh nhanh rồi rút”. 

Hãy nhìn các tập đoàn lớn trên thế giới, hay thậm chí ở Việt Nam, thường phải đến hơn 15 năm sau kể từ lúc thành lập, họ mới có thể cất cánh và trở thành trụ cột của nền kinh tế ở mỗi quốc gia. Việt Nam sẽ dành chuyển từ “thị trường mới nổi” sang “thị trường tiềm năng”, vì vậy, yếu tố bền vững ở kinh tế vĩ mô dài hạn là điều quan trọng và mọi thứ đang chuyển dịch sang hướng này. Có một câu từ ông bà xưa mà tôi rất tâm đắc: “Đường dài mới biết ngựa hay.”

Startup Việt hiện nay có rất ít startup Việt đi ra thị trường nước ngoài thành công. Theo bà lý do của việc này là gì? Để cải thiện điều này, bà có lời khuyên gì cho startup hay không?

Tôi muốn định lượng lại câu hỏi ở đây một chút, như thế nào là ít và như thế nào là nhiều. Và như thế nào được định nghĩa là startup Việt. Tôi lấy một quy chuẩn chung (của cá nhân tôi) để trả lời câu hỏi này như sau: Startup Việt là công ty khởi nghiệp có trụ sở chính tại Việt Nam và được thành lập bởi ít nhất một người có quốc tịch Việt Nam. “Ít” và “nhiều” dựa trên tỉ lệ các công ty được thành lập trong nước theo tiêu chí về Startup Việt có thêm văn phòng hay mở rộng đăng ký kinh doanh ở nước ngoài.

Nếu theo tiêu chí quy chuẩn ở trên, thực tế cho thấy có ít startup Việt ra thị trường nước ngoài. Còn nếu dùng quy chuẩn, startup Việt có những sản phẩm & dịch vụ bán được thị trường toàn cầu, có lẽ sẽ nhiều hơn một chút. Từ những năm 2005, các công ty, cá nhân Việt Nam chuyên làm dịch vụ gia công thiết kế website và lập trình phần mềm cho thị trường nước ngoài, không hề ít. Nghĩa là chúng ta có những dấu hiệu sớm của khả năng phát triển ra thị trường toàn cầu, nhưng chúng ta vẫn bị “mắc kẹt”.

Tôi nghĩ, startup Việt “mắc kẹt” với thị trường nước ngoài là vì chúng ta không có nhiều thông tin theo kiểu know-how và sự am hiểu sâu sắc địa phương. Chúng ta có thể đến Singapore du lịch, nhưng chúng ta ít tìm hiểu ngó nghiêng hay tìm cách trao đổi với các doanh nhân bản địa để hiểu về nơi chúng ta muốn phát triển. Chúng ta “mắc kẹt” với góc nhìn thị trường Việt Nam đã đủ lớn, không cần đi đâu cả. Chúng ta “mắc kẹt” với sự giỏi mà không hề biết rằng chúng ta có thể vươn tới sự vĩ đại. 

Bắt đầu khởi nghiệp tại một quốc gia có lợi thế lớn về nhân sự công nghệ (số lượng đông đảo và tinh thần làm việc chăm chỉ), tôi nghĩ rằng Startup Việt nên thấy đó là lợi thế cạnh tranh đáng giá của mình mà tự tin gia nhập vào cuộc chơi toàn cầu. Chúng ta không nên tự ti là chúng ta chưa có những người đủ giỏi; cứ phải làm, va chạm và thử sức, từ những thử thách mới tôi luyện được nhân tài. Thế giới ngày càng phẳng do việc đi lại, kiến thức thông tin, cách tạo lập các mối quan hệ – giờ đây dễ dàng hơn bao giờ hết. Đừng “mắc kẹt” ở chính tư duy và góc nhìn của mình, hãy nghĩ xa hơn và hướng tới sự vĩ đại. 

Theo bà, các quy định hiện nay đã đủ điều kiện để startup Việt phát triển và “go global” hay chưa? Từ đó, bà có kiến nghị/đề xuất gì với cơ quan quản lý hay không?

Tôi chưa thấy nhiều rào cản từ các quy định hiện hành đối với việc các công ty muốn phát triển ra nước ngoài. Tuy nhiên, tôi nghĩ điểm hạn chế là các thông tin nói chung chưa có sự hợp nhất và hướng dẫn rõ ràng cho các công ty khởi nghiệp. Bởi lẽ, một công ty hoạt động ở Việt Nam, có nhiều giấy phép con đến từ các ban ngành đoàn thể khác nhau của nhiều bộ khác nhau, bắt đầu từ Bộ Kế Hoạch & Đầu Tư, sau đó tùy vào ngành nghề mà cần thêm các giấy phép đến từ Bộ Thông tin & Truyền Thông hay Bộ Khoa Học & Công Nghệ. Đó là chưa kể đến các thủ tục liên quan đến Bộ Tài Chính và Ngân Hàng Nhà Nước vì có giao dịch ở nước ngoài. Rào cản lớn nhất không đến từ quy định, mà làm sao để các công ty khởi nghiệp hay doanh nghiệp nói chung, có thể biết là họ cần giấy phép nào, xin ở đâu, mất thời gian dự kiến bao lâu… các thông tin xuyên suốt, minh bạch và có ước lượng thời gian chuẩn xác. Điều này ảnh hưởng trực tiếp đến việc lên kế hoạch kinh doanh của startup Việt.

Thời gian gần đây, Bộ TT&TT đã có các chính sách để thúc đẩy DN công nghệ số và các sản phẩm Make in Vietnam. Theo bà, để các sản phẩm của startup thực sự đi vào đời sống, cơ quan quản lý và bản thân các startup cần phải làm gì?

    Từ góc độ quản lý doanh nghiệp nhìn vào sự nỗ lực của cơ quan quản lý, hay những chính sách thúc đẩy được Bộ TT&TT đưa ra, chúng tôi lấy làm rất cảm kích, bởi lẽ, ủng hộ những điều mới mẻ từ góc độ ban ngành đoàn thể nói riêng hay chính phủ nói chung, đều là những bước tiến đáng chú ý đối với hệ sinh thái đổi mới sáng tạo. 

    Nếu có được đề xuất cho những cải tiến thêm về những hoạt động trong thời gian qua, tôi có mong muốn tột bậc, là cơ quan quản lý có thể hiểu và trao đổi với doanh nghiệp nói chung ở góc độ ngôn ngữ của doanh nghiệp, ngôn ngữ của startups hơn là truyền thông ra bên ngoài vẫn còn đậm chất ngôn ngữ của nhà nước. Startup có hiểu thì mới có thể thực thi; việc thực thi tích cực mới mang sản phẩm hay dịch vụ đi vào đời sống. Người dân, cộng đồng, xã hội số đông hiểu, thì mới ủng hộ được startup, ủng hộ các chính sách mới. Tôi ủng hộ khẩu hiệu “Invented in Vietnam” hay “Được Phát Minh Tại Việt Nam” dành cho các doanh nghiệp đổi mới sáng tạo, bởi vì tôi tin rằng chúng ta không chỉ là quốc gia sản xuất, mà còn rất nhiều những phát minh, sáng chế tầm cỡ quốc tế, hoàn toàn có thể bắt đầu từ Việt Nam.